Tuần và Triệt là hai "vùng trống" trên lá số tử vi, an theo năm sinh, mỗi vùng phủ lên hai cung nằm cạnh nhau. Sao nằm trong vùng đó bị giảm lực: sao tốt kém tốt đi, sao xấu bớt xấu đi. Triệt an theo thiên can năm sinh, Tuần an theo tuần Giáp chứa năm sinh. Đa số sách cho rằng Triệt tác động mạnh ở nửa đầu đời, Tuần rõ hơn ở nửa sau.
Khách hay chỉ vào hai chữ nhỏ nằm trên vạch ngăn giữa hai ô rồi hỏi Thức Tâm: "Cái này có phải bị cắt đứt không thầy?". Không hẳn. Chặn, chứ không cắt. Đọc hết bài này bạn sẽ tự an được Tuần Triệt và biết cách luận cho đúng.
Tuần, Triệt nghĩa là gì
Triệt là chặn, cắt ngang. Hình dung con đường đang thông thì có rào chắn: đi được, nhưng phải vòng, phải chờ.
Tuần gốc từ chữ "tuần không" (không vong của một tuần Giáp). Mười can ghép mười hai chi thì mỗi tuần thừa ra hai chi không có can đi kèm. Hai chi bị "bỏ trống" đó chính là chỗ an Tuần. Vì thế Tuần mang nghĩa trống, rỗng, thiếu chỗ bám. Có mà như không.
Cả hai đều không phải sao theo nghĩa thông thường. Chúng không có ngũ hành riêng được dùng phổ biến, không có miếu hãm. Chúng chỉ làm một việc: giảm cường độ của những gì nằm dưới nó. Thế thôi.
Một điểm dễ bỏ qua: trên lá số, Tuần và Triệt được ghi ở vạch giữa hai ô. Nghĩa là nó án ngữ cả hai cung chứ không riêng ô nào.
Cách an Triệt theo can năm sinh
Triệt chỉ phụ thuộc thiên can năm sinh. Có đúng năm cặp vị trí:
| Can năm sinh | Năm sinh có số cuối | Triệt ở cung |
|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | 4, 9 | Thân – Dậu |
| Ất, Canh | 5, 0 | Ngọ – Mùi |
| Bính, Tân | 6, 1 | Thìn – Tỵ |
| Đinh, Nhâm | 7, 2 | Dần – Mão |
| Mậu, Quý | 8, 3 | Tý – Sửu |
Cột "số cuối" giúp tra nhanh theo năm dương lịch, ví dụ năm 1990 có số cuối 0 là can Canh. Lưu ý một chỗ hay sai: người sinh tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch, trước Tết, vẫn thuộc năm âm lịch trước. Sinh ngày 20/1/1990 là năm Kỷ Tỵ chứ không phải Canh Ngọ.
Cách an Tuần theo tuần Giáp
Sáu mươi năm hoa giáp chia thành sáu tuần, mỗi tuần mười năm, bắt đầu bằng một năm Giáp. Năm sinh rơi vào tuần nào thì Tuần an ở hai chi bị trống của tuần đó.
| Tuần | Gồm các năm | Tuần ở cung |
|---|---|---|
| Giáp Tý | Giáp Tý đến Quý Dậu | Tuất – Hợi |
| Giáp Tuất | Giáp Tuất đến Quý Mùi | Thân – Dậu |
| Giáp Thân | Giáp Thân đến Quý Tỵ | Ngọ – Mùi |
| Giáp Ngọ | Giáp Ngọ đến Quý Mão | Thìn – Tỵ |
| Giáp Thìn | Giáp Thìn đến Quý Sửu | Dần – Mão |
| Giáp Dần | Giáp Dần đến Quý Hợi | Tý – Sửu |
Không muốn đếm? Có cách nhanh. Chỉ cần một phép trừ. Lấy thứ tự chi năm sinh trừ thứ tự can năm sinh (Giáp là 0, Ất 1… Quý 9; Tý là 0, Sửu 1… Hợi 11). Kết quả âm thì cộng 12. Ra chi nào thì đó là chi của năm Giáp mở tuần. Ví dụ ra 0 là tuần Giáp Tý, ra 10 là tuần Giáp Tuất.
Ví dụ an Tuần Triệt từng bước
Thức Tâm lấy ba năm sinh, can chi đã tra bằng lịch âm của website:
Người sinh giữa năm 1990 (Canh Ngọ)
- Can Canh: tra bảng Triệt, ra Triệt ở Ngọ – Mùi.
- Chi Ngọ là 6, can Canh là 6. Lấy 6 − 6 = 0, tức tuần Giáp Tý. Tra bảng Tuần, ra Tuần ở Tuất – Hợi.
Người sinh giữa năm 1995 (Ất Hợi)
- Can Ất: Triệt ở Ngọ – Mùi.
- Chi Hợi là 11, can Ất là 1. Lấy 11 − 1 = 10, tức tuần Giáp Tuất: Tuần ở Thân – Dậu.
Người sinh giữa năm 1992 (Nhâm Thân)
- Can Nhâm: Triệt ở Dần – Mão.
- Chi Thân là 8, can Nhâm là 8. Lấy 8 − 8 = 0, tuần Giáp Tý: Tuần ở Tuất – Hợi.
Bước thứ ba là nhìn lá số của bạn: cung nào nằm ở các địa chi vừa tra thì cung đó bị Tuần hoặc Triệt án ngữ. Ví dụ người 1990 có Mệnh an ở Ngọ thì Mệnh bị Triệt, và cung kề bên ở Mùi (cung Phụ Mẫu) cũng chịu Triệt. Chưa có lá số thì lập ở trang lá số tử vi; muốn hiểu vì sao Mệnh nằm ở chi đó, đọc cách lập lá số tử vi.
Luận Tuần Triệt: sao tốt, sao xấu, cung trống
Nguyên tắc chung được hầu hết sách Việt Nam dùng:
- Chính tinh miếu vượng, cát tinh gặp Tuần Triệt: giảm lực. Cái tốt đến chậm, đến muộn, phải tự gồng nhiều hơn người cùng sao mà không bị án ngữ.
- Sao hãm địa, sát tinh gặp Tuần Triệt: bớt hại. Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp bị Triệt thường được xem là đỡ đi phần nặng.
- Cung vô chính diệu gặp Tuần hoặc Triệt: nhiều sách coi là cách tốt, nhất là cung Mệnh. Cung trống vốn "mượn" sao cung đối diện, gặp Tuần Triệt thì được giữ thăng bằng hơn.
- Hóa Kỵ bị Tuần Triệt: vướng mắc giảm. Hóa Lộc bị Tuần Triệt: lộc đến nhưng giữ khó hoặc chậm.
Về thời điểm, cách luận phổ biến là Triệt mạnh trước khoảng 30 tuổi, sau đó yếu dần; Tuần thấy rõ từ trung niên trở đi. Có sách chia mốc khác, nhưng tinh thần chung thì giống nhau.
Có một câu phú hay được nhắc là "Tuần lâm Hỏa địa, Triệt đáo Kim cung". Nhiều người hiểu là Triệt ở cung Thân, Dậu (đất Kim) và Tuần ở cung Tỵ, Ngọ (đất Hỏa) thì sức án ngữ yếu đi. Các thầy hiểu câu này chưa thống nhất, nên Thức Tâm chỉ dùng nó để cân nhắc thêm, không dùng làm căn cứ chính.
Muốn biết sao trong cung bạn đang miếu hay hãm để áp nguyên tắc trên, xem bài miếu, vượng, đắc, hãm.
Tuần Triệt ở cung Mệnh, Phu Thê và các cung hay được hỏi
| Cung bị án ngữ | Thường gặp khi chính tinh tốt | Thường gặp khi sao xấu hoặc cung trống |
|---|---|---|
| Mệnh | Thời trẻ vất vả, tài năng chậm được nhận ra, ngoài ba mươi mới vững | Bớt nóng nảy, bớt va vấp; vô chính diệu thì được nâng đỡ |
| Phu Thê | Duyên đến muộn, hoặc yêu nhau lâu mới cưới | Mâu thuẫn bớt gắt, dễ hòa giải hơn |
| Tài Bạch | Kiếm được nhưng khó tích, tiền đến chậm hơn kỳ vọng | Bớt hao tài vì sát tinh |
| Quan Lộc | Sự nghiệp khởi đầu chậm, hay đổi hướng thời trẻ | Bớt thị phi nơi làm việc |
| Phụ Mẫu | Ít được nhờ cha mẹ, hoặc xa nhà sớm | Bớt căng thẳng với bề trên |
Bảng này là khung tham khảo. Không phải lời phán. Phu Thê bị Triệt mà Thiên Di, Phúc Đức hội nhiều cát tinh, cộng đại hạn đẹp, thì chuyện cưới muộn có khi chỉ là lùi vài năm, vẫn êm ấm. Thức Tâm không bao giờ đọc Tuần Triệt tách khỏi tam phương tứ chính của cung đó.
Hiểu sai thường gặp về Tuần Triệt
"Triệt ở Phu Thê là không lấy được chồng, vợ." Sai. Triệt làm chậm, làm khó lúc đầu. Chậm khác với mất. Nó không xóa cung Phu Thê. Thức Tâm gặp rất nhiều người Phu Thê bị Triệt vẫn có gia đình bình thường, chỉ là cưới muộn hơn bạn bè hoặc trải qua một hai lần dang dở trước khi ổn định.
"Tuần Triệt là xấu, càng ít càng tốt." Sai. Ai cũng có đủ một Tuần một Triệt. Không ai thoát. Câu hỏi đúng là nó rơi vào cung có sao tốt hay sao xấu. Rơi trúng chỗ sát tinh hãm thì còn là may.
"Tuần và Triệt cùng một cặp cung thì gấp đôi." Chưa chắc. Sách nói hai chiều. Khi Tuần và Triệt trùng chỗ (gọi là Tuần Triệt đồng cung), có sách cho rằng hai lực án ngữ triệt tiêu lẫn nhau, có sách cho rằng nặng thêm. Ví dụ người sinh năm Giáp Tuất có Triệt ở Thân – Dậu và Tuần cũng ở Thân – Dậu. Gặp trường hợp này, Thức Tâm cân theo chính tinh và đại hạn chứ không theo công thức.
"Đến tuổi nào đó Tuần Triệt hết tác dụng." Nói "hết" là quá tay. Triệt nhẹ dần, không biến mất; cái mất đi là cảm giác bị chặn gắt như thời trẻ.
Tự kiểm tra Tuần Triệt trên lá số của bạn
Làm theo thứ tự. Chừng mười phút là xong:
- Xác định can chi năm sinh âm lịch (cẩn thận nếu sinh trước Tết).
- Tra bảng Triệt theo can, tra bảng Tuần theo tuần Giáp.
- Tìm hai cặp địa chi đó trên lá số, ghi lại bốn cung bị án ngữ.
- Với từng cung: chính tinh là gì, miếu hay hãm, có sát tinh hay Hóa Kỵ không.
- Áp nguyên tắc: tốt thì giảm, xấu thì bớt; Triệt nặng tuổi trẻ, Tuần nặng về sau.
- Đặt cung đó vào tam phương tứ chính và đại hạn đang chạy trước khi kết luận.
Nếu Mệnh bạn vô chính diệu, đọc thêm bài cung Mệnh và cung Thân để biết nên lấy cung nào làm trọng. Còn muốn nắm toàn bộ quy trình đọc một lá số, bài cách xem lá số tử vi cho người mới đi từng bước từ đầu.