Miếu, vượng, đắc, bình, hãm là năm mức "độ sáng" của một sao tùy theo cung nó đứng trên lá số tử vi. Miếu là sáng nhất, sao phát huy trọn vẹn mặt tốt. Vượng và đắc là tốt. Bình (bình hòa) là trung tính. Hãm là tối, sao yếu và dễ lộ mặt tiêu cực. Cùng một sao, đứng cung miếu với đứng cung hãm có thể cho hai kiểu người rất khác.
Khách hay hỏi Thức Tâm "sao Thái Dương là tốt hay xấu". Thức Tâm luôn hỏi lại: Thái Dương ở cung nào?
Năm mức độ của sao
| Mức | Còn gọi | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Miếu | Miếu địa | Sao ở "nhà" của mình, phát huy mạnh nhất |
| Vượng | Vượng địa | Rất mạnh, gần bằng miếu |
| Đắc | Đắc địa | Đủ lực, phát huy tốt |
| Bình | Bình hòa | Trung tính, tốt xấu tùy sao đi cùng |
| Hãm | Hãm địa | Yếu, dễ bộc lộ mặt xấu của sao |
Một số sách gộp lại chỉ còn ba mức: miếu vượng, đắc, hãm. Nguyên lý vẫn vậy.
Vì sao cùng một sao mà sáng tối khác nhau
Lý do nằm ở ngũ hành và âm dương. Mỗi cung là một địa chi có hành riêng: Dần Mão Mộc, Tỵ Ngọ Hỏa, Thân Dậu Kim, Hợi Tý Thủy, Thìn Tuất Sửu Mùi Thổ. Sao gặp cung hợp hành, hợp thời thì mạnh, ngược thì yếu.
Ví dụ dễ hình dung nhất là hai sao Nhật Nguyệt.
Thái Dương là mặt trời. Theo đa số sách Việt Nam, Thái Dương ở các cung buổi sáng đến giữa trưa (khoảng từ Dần đến Ngọ) là sáng sủa. Sang các cung chiều tối, đêm như Tuất, Hợi, Tý thì hãm, như mặt trời đã lặn. Người Thái Dương sáng thường hào phóng, có danh; Thái Dương hãm thì vẫn tốt bụng nhưng hay vất vả, làm nhiều mà ít được ghi nhận.
Thái Âm là mặt trăng, ngược lại. Theo đa số sách Việt Nam, Thái Âm đẹp nhất ở các cung về đêm như Dậu, Tuất, Hợi, và hãm ở các cung ban ngày như Mão, Thìn, Tỵ. Trăng giữa trưa thì ai thấy được?
Kình Dương là sát tinh. Nhiều sách cho Kình Dương đắc địa ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (Tứ Mộ). Đắc địa thì người quyết đoán, can đảm, hợp nghề cần bản lĩnh. Hãm địa thì nóng nảy, dễ va chạm.
Thức Tâm chỉ nêu những ví dụ phổ biến và chắc chắn. Vị trí miếu hãm chi tiết của từng sao sẽ có ở các bài riêng về sao đó.
Sao tốt hãm địa, sao xấu đắc địa
Đây là chỗ người mới hay đọc sai nhất.
- Cát tinh hãm địa vẫn là cát tinh, chỉ là kém lực. Thiên Đồng hãm vẫn hiền, nhưng có thể thiếu quyết tâm, hay bỏ dở.
- Sát tinh đắc địa không còn là "sao xấu" theo nghĩa thông thường. Nó trở thành động lực, sự quyết liệt. Nhiều người làm quân đội, công an, phẫu thuật, kỹ thuật nặng có sát tinh đắc địa ở Mệnh hoặc Quan Lộc.
Vậy nên đếm "có mấy sao xấu" là vô nghĩa. Phải xem sao đó sáng hay tối ở chỗ nó đứng.
Những yếu tố làm thay đổi độ sáng
Miếu hãm chỉ là điểm xuất phát. Thức Tâm luôn xét thêm:
- Tuần, Triệt: làm giảm lực sao trong cung. Sao hãm gặp Tuần Triệt thì bớt xấu; sao miếu gặp thì kém đi.
- Tứ hóa: Hóa Khoa giúp sao hãm đỡ đi nhiều; Hóa Kỵ chạm sao miếu thì sao đẹp cũng thành vướng.
- Tam phương tứ chính: cát tinh hội về nâng đỡ, sát tinh hội về kéo xuống. Xem bài tam phương tứ chính là gì.
- Bộ sao đi cùng: có sao đứng một mình thì yếu, đi cặp đúng bạn thì mạnh hẳn.
Một sao hãm ở Mệnh nhưng tam phương có Tả Hữu, Khôi Việt, Hóa Lộc hội về thì vẫn là lá số khá. Ngược lại cũng đúng.
Thức Tâm hay ví thế này cho khách dễ nhớ: miếu hãm giống như việc một người giỏi được đặt vào đúng hay sai chỗ làm, còn Tứ hóa, Tuần Triệt và các sao hội chiếu giống như đồng nghiệp, sếp và hoàn cảnh xung quanh, nên người giỏi đặt sai chỗ mà gặp sếp tốt vẫn làm nên chuyện, người giỏi đặt đúng chỗ mà toàn gặp người kéo chân thì cũng mệt.
Vì sao các sách ghi khác nhau
Bạn mở hai cuốn sách, hoặc hai phần mềm, đôi khi thấy cùng một sao mà một bên ghi "đắc", bên kia ghi "bình". Chuyện này có thật. Các bộ sách gốc Trung Hoa và sách Việt Nam như Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của cụ Thái Thứ Lang có bảng miếu hãm lệch nhau ở vài vị trí.
Lời khuyên của Thức Tâm: chọn một hệ để học cho nhất quán, thường là hệ phổ biến ở Việt Nam. Khi gặp vị trí còn tranh cãi, đừng phán chắc theo một chiều. Cứ ghi chú lại hai cách hiểu, rồi đối chiếu với tính cách thật và những việc đã xảy ra với người có lá số đó, lâu dần bạn sẽ thấy hệ nào khớp hơn với kinh nghiệm của mình.
Áp dụng khi đọc lá số của mình
Mở lá số ra. Hầu hết phần mềm ghi ký hiệu cạnh tên sao: M (miếu), V (vượng), Đ (đắc), B (bình), H (hãm). Bạn đọc lần lượt:
- Chính tinh ở cung Mệnh sáng hay tối?
- Ở Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di thì sao?
- Sát tinh nào đắc địa, sát tinh nào hãm?
Ghi lại, rồi đối chiếu với ý nghĩa từng sao trong bài 14 chính tinh trong tử vi. Chưa có lá số thì lập ở trang tử vi. Đọc xong bạn sẽ thấy lá số bớt "đáng sợ" đi nhiều.